Cô Giáo sĩ Gladys Aylward
“NGƯỜI NỮ NHỎ NHẮN”
Trong quá khứ, nạn phân biệt giới tính từng là yếu tố khiến nữ giới không được chấp nhận làm giáo sĩ. Nhưng trường hợp của cô Gladys Aylward thì khác. Năm 1930, cô nộp đơn cho Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa (China Inland Mission: CIM).
(Lâu nay hội truyền giáo này nổi tiếng là chấp nhận nữ giới làm giáo sĩ.) Nhưng họ không chấp nhận cô sau thời gian thử thách cô tại trung tâm đào tạo giáo sĩ. Cô hoàn toàn không có khả năng làm giáo sĩ. Ở tuổi hai mươi tám, cô đã quá tuổi quy định của ban quản trị khi tuyển giáo sĩ. Nhưng lý do chính yếu khiến họ không nhận cô là khả năng tiếp thu kiến thức kém. Có lẽ vì vậy mà cô không thể học những vấn đề sâu rộng. Mặc dù nói năng lưu loát, nhưng dường như cô hoàn toàn không thể nắm vững nội dung in trong sách. Thực tế là cô bỏ công bỏ sức học nhiều hơn các sinh viên khác. Nhưng, một người viết tiểu sử của cô nhận xét rằng: “Khi cần nhớ tổng hợp kiến thức bằng những phương pháp thông thường, khả năng trí óc của cô dường như tự động bão hoà khoá lại hoặc thỉnh thoảng khiến cô rối trí.” Nhưng bất chấp khiếm khuyết này, cô trở nên một trong những nữ giáo sĩ độc thân đáng chú ý nhất trong lịch sử giáo hội hiện đại.
Cô ra đời tại London năm 1902 trong một gia đình thuộc tầng lớp lao động. Xem như số phận của cô là sống mãn đời trọn kiếp mưu sinh trong tầng lớp xã hội này. Năm mười bốn tuổi, cô đã tham gia lực lượng lao động và ổn định cuộc sống trong vai trò một người giúp việc nhà. Cô là nữ hầu nước cho khách khứa, nhưng đó là cách diễn đạt để tránh cụm từ tôi tớ trong nhà, tức là một người làm việc nặng nhọc trong gia đình chủ, làm việc dài giờ, lương thấp, một nghề ràng buộc nữ độc thân trọn kiếp sống. Việc làm hằng ngày diễn ra đều đặn và buồn tẻ. Thỉnh thoảng, có những buổi tối được rảnh nhưng cũng bị cắt ngắn vì giới nghiêm sớm. Chỉ nhờ trí tưởng tượng cô mới thoát ra khỏi hiện thực buồn tẻ. Mọi sinh hoạt lần lượt hiện ra trong trí tưởng tượng tạo điều kiện cho cô lướt nhanh từ việc uống rượu, hút thuốc, khiêu vũ, cờ bạc rồi đến rạp hát xem phim lẫn ca nhạc.
Sự kết hợp giữa tưởng tượng và hiện thực chi phối tâm hồn cô Aylward cho đến những năm hai mươi tuổi. Có lẽ, cũng có thể tiếp tục chi phối cô đến những năm ba mươi tuổi hoặc nhiều năm hơn nữa nếu không có ngã rẽ quan trọng trong cuộc đời của cô. Mặc dù, cô thỉnh thoảng đi nhóm ở nhà thờ, nhưng mãi đến khi bị một người xa lạ chất vấn, cô mới xưng nhận niềm tin. Cuộc đời cô thay đổi sau khi cô xưng nhận niềm tin. Cô bắt đầu mơ ước đi làm giáo sĩ. Mộng ước này đưa cô đến với trụ sở của hội CIM năm 1929. Mộng ước vẫn không tan biến dù cô bị ban quản trị từ chối sau khi khoá học thử thách tại trung tâm đào tạo tân giáo sĩ chấm dứt. Cô tin chắc rằng Đức Chúa Trời kêu gọi cô. Nếu cô không nhận được sự hỗ trợ của một hội truyền giáo, thì cô sẽ tự thân ra đi.
Thế là cô lại quay về với nghề hầu nước khách khứa. Dù đơn chiếc lẻ loi, cô bắt đầu hoạch định cho công tác truyền giáo tại Trung Hoa trong phòng ngủ nhỏ hẹp của mình. Cô bắt đầu dùng hết tiền dành dụm ít ỏi lâu nay để đặt cọc tại đại lý bán vé xe lửa nhằm lần hồi sẽ mua 1 vé đi TrungHoa. (Đường sắt chạy suốt qua Châu Âu, Liên Xô, Siberia là phương tiện giao thông sẵn có và rẻ nhất.) Cô cũng bắt đầu đọc sách và tìm hiểu về Trung Hoa. Việc này giúp cô tiếp cận với bà Jeannie Lawson, một nữ giáo sĩ goá phụ lớn tuổi tại Trung Hoa. Bà đang trông mong có người phụ giúp. Đối với cô Aylward, đây là dấu hiệu trực tiếp đến từ Đức Chúa Trời. Ngày 15/10/1932, với mấy tấm vé nơi tay, cô khởi hành từ ga Liverpool Street trong chuyến hành trình dài đến Trung Hoa. Với chiếc áo choàng dài màu cam phủ bên ngoài áo măng-tô, cô là một hành khách gây tò mò, trông cô như một mụ gíp-sy (gypsy) hơn là một giáo sĩ. Ngoài túi ngủ ra, cô xách hai cái va-li (một cái chứa đầy lương khô) và một túi loảng xoảng lách cách vì chứa một cái lò nhỏ, bình nước và soong chảo. Bất chấp rào cản ngôn ngữ, hành trình của cô xuyên suốt Châu Âu tương đối yên ổn. Tuy nhiên, Liên Xô đang lâm vào cuộc chiến không chính thức với Trung Hoa về vấn đề biên giới. Sau khi rời ga Moscow, tàu chật ních vì nhiều binh lính Liên Xô. Ở mỗi ga, kiểm soát viên đều chất vấn về tính xác thực của tấm vé và hộ chiếu của cô.
Lạc lõng giữa hàng trăm binh sĩ, vượt qua phong cảnh Siberia tiêu điều, cô nghĩ ngợi về quyết định của mình. Nhưng đã quá trễ để cô quay về. Rốt cuộc, tiếng xình xịch đơn điệu của đoàn tàu trên đường ray lạnh giá chấm dứt. Không có tín hiệu gì báo trước nhưng người ta cho cô biết đó là địa điểm cô được phép hành trình đến, kể từ đây chỉ có binh lính được phép ở lại trong tàu để đi tiếp. Cô không chịu rời khỏi tàu vì nghĩ rằng càng đi thêm cây số nào thì cô càng đến gần Trung Hoa hơn. Tàu tiếp tục chạy nhiều cây số nữa, rồi dừng lại. Trong khi lính tráng rời khỏi tàu và chuyển quân dụng xuống thì cô nghe tiếng súng văng vẳng đằng xa. Thế là, chỉ còn một mình cô trong con tàu vắng lặng cách tuyến chiến sự khoảng vài trăm mét. Cô chẳng còn cách nào khác ngoài ra đi bộ ngược về Chita trên đường mòn phủ đầy tuyết. Người viết tiểu sử của cô, ông Alan Burgess thuật lại cách sống động đợt thử thách này như sau:
Gió Siberia thổi bụi tuyết bao quanh giày của cô. Mỗi tay cô xách một cái va-li. Trang trí một cách kỳ quặccho một chiếc va-li gồm có một ấm nước và một cái chảo. Trên vai cô khoác cái mền lông thú. Cô lê từngbước một chậm chạp trong đêm tối. Dáng người mảnh dẻ, đơn chiếc càng trở nên nhỏ bé so với cây cối cao ngất, thẫm màu, núi non sừng sững dưới bầu trời tối tăm gắn vô vàn vì sao lóng lánh như hạt kim cương.Nhưng cô không hề ngờ có chó sói lảng vảng quanh đó. Thỉnh thoảng bất ngờ cây rừng ào ào đổ tuyết xuống đất, hoặc một cành cây gãy đổ dưới lớp tuyết nặng. Nghe tiếng động, cô dừng chân và nghi ngại nhìn về phía tiếng động. Nhưng chẳng thấy động tĩnh gì. Chẳng có ánh sáng, chẳng có hơi ấm ngoại trừ tình cảnhcô độc bất tận.
Đến sáng sớm, sau hai giờ đồng hồ nghỉ ngơi bên cái lò cồn nhỏ, cô có thể nhìn thấy những ánh đèn mờ ảo của Chita ở đằng xa. Đợt thử thách tồi tệ nhất trong chuyến hành trình của cô đã chấm dứt. Từ Chita, cô có thể đi xe lửa đến Mãn Châu (Manchuria). Nhưng, cô chỉ có thể đi tới Trung Hoa bằng cách thực hiện một hành trình ngoài dự tính qua Nhật Bản. Tại đó, cô nhận được sự giúp đỡ của lãnh sự quán Anh.
Sau khi đến Trung Hoa, cô bắt đầu chuyến hành trình gian khổ qua dãy núi để đến Dương Thành (Yangcheng). Tại đó, bà Jeannie Lawson trung tín duy trì công tác mà bà và chồng đã bắt đầu nhiều năm về trước. Bà Lawson tiếp đón cô nhưng theo cách riêng của bà. Bà vốn là một phụ nữ nói năng cộc lốc. Bà không ấn tượng về bất cứ sự hy sinh nào mà cô Aylward đã trải qua. Sau khi bà Lawson dẫn cô Aylward đi xem cảnh trí quanh khu vực, bà giao cho cô công tác truyền giáo, tức là trông coi nhà trọ dành cho đám người dẫn những con la chở hàng hoá đi về hướng tây. Những người này phải nghỉ ngơi tại Dương Thành. Bà Lawson nhận thấy việc này là cơ hội để truyền bá Phúc Âm cho hững người dẫn la vào mỗi buổi tối. Nhưng đối với cô Aylward, đây là một công việc khó nhọc, khiến cô nghĩ rằng chân giúp việc nhà ở London hoá ra là một nghề nhẹ nhàng hơn.
Bất chấp công việc khó nhọc, ít lợi lộc, nhưng cô có cơ hội để thấm nhuần văn hoá bản xứ. Những điều mà cô chẳng bao giờ tiếp thu nổi trong lớp dạy ngôn ngữ theo bài bản thì khi cô tiếp xúc với những người dẫn la, cô nhanh chóng học cách nói của họ. Ngôn ngữ bản xứ Trung Hoa chẳng những khó vì chữ viết phức tạp mà còn là một ngôn ngữ diễn đạt nỗi niềm và cảm xúc. Nhờ nắm được khía cạnh đó về ngôn ngữ bản xứ nên cô học được cách giao tiếp với họ. Nhưng dù cô tiến bộ trong giao tiếp với người Trung Hoa thì khả năng giao tiếp với bà Lawson lại thụt lùi. Thật ra chẳng rõ hai người có bao giờ thực sự truyền đạt ý tưởng và tình cảm cho nhau không. Hai người bất đồng sâu sắc vì cách làm việc của bà Lawson thì cứng nhắc còn cô Aylward thực hiện công việc trong tinh thần độc lập và tự do. Rốt cuộc, (cô Aylward đến đó chưa đầy một năm) sau một trận cãi nhau kịch liệt, bà Lawson bảo cô thôi việc đi nơi khác. Không có nơi nào khác tá túc, cô Aylward đành xin đến ở cùng một số giáo sĩ thuộc hội CIM tại một thị trấn khác. Dầu vậy, ít lâu sau khi nghe tin bà Lawson mắc bệnh, cô vội vàng trở về ở với bà và chăm sóc bà cho đến khi bà qua đời vài tuần sau đó.
Sau khi bà Lawson qua đời, cô Aylward không còn nhận được sự hỗ trợ tài chính nào để trông coi nhà trọ. Nhưng có một cơ hội mới mở ra; cơ hội này đặt cô vào vị thế ảnh hưởng rất rộng lớn. Một ông quan toà Trung Hoa ở Dương Thành nhờ cô làm kiểm tra viên. Công việc của cô là đi đến từng nhà kiểm tra chân của nữ giới, xem họ có tuân hành luật mới ban hành là cấm nữ giới bó chân.
Đó là một cơ hội thú vị để cô tăng khả năng sử dụng tiếng Trung Hoa, có nhiều cơ hội quen biết người dân, và có cơ hội để truyền bá Phúc Âm.
Khi cô đi từ nơi này đến nơi khác, chức vụ của cô mở rộng. Bất cứ nơi nào cô đến, dân chúng tụ họp để gặp cô và nghe cô kể chuyện Kinh Thánh. Cô xuất hiện ở làng mạc không chỉ một lần mà nhiều lần. Càng ngày uy tín của cô càng tăng. Dân chúng bắt đầu xem cô là một nhân vật có quyền thế, quyền thế đến mức có lần họ nhờ cô dùng tài khéo ăn nói để dẹp cuộc nổi loạn trong một trại giam. Có nhiều người kết bạn với cô và cũng có nhiều người cải đạo. Chức vụ của cô xem ra có một tương lai xán lạn. Nhưng bên ngoài thế giới nhỏ bé của cô quanh huyện Dương Thành, tỉnh Sơn Tây, âm mưu lớn lao và cuộc tập luyện của quân đội đang diễn ra. Ông Mao Trạch Đông, hồi đó chỉ là một lãnh đạo du kích ít người biết đang gầy dựng lực lượng của mình. Nhật Bản đang tập trung hàng ngàn binh lính dọc biên giới Mãn Châu.
Nhưng ở tỉnh Dương Thành cuộc sống vẫn diễn ra như thường lệ cho đến mùa hè năm 1937. Khi đó, lâu nay những làng yên bình trên vùng núi non ở tỉnh Sơn Tây trở thành mục tiêu cho những cuộc oanh kích của Nhật Bản. Cô Aylward, mới đây đã nhập quốc tịch Trung Hoa, vẫn ở tại Dương Thành. Mùa xuân năm 1938, khi chính huyện Dương Thành bị oanh kích, cô vẫn không chịu di tản cho đến chừng không có thương vong nào bị bỏ lại.
Chiến tranh tác động nặng nề trên cô. Một mặt, chiến tranh khiến cô gan dạ và chịu đựng dẻo dai mà chính cô không nhận ra. Hoạt động của cô bao gồm: Khi thì tiếp tế thực phẩm để cứu giúp dân làng, khi thì trà trộn ở hậu tuyến quân địch để làm gián điệp cho quân đội Trung Hoa đến nỗi quân thù treo giải thưởng về thủ cấp của cô. Nhưng mặt khác, sự tàn phá của chiến tranh khiến cô cảm thấy hết sức đơn độc và dễ bị tổn thương. Đối với những người xung quanh cô tỏ ra mạnh mẽ, nhưng tận sâu thẳm trong lòng cô ước chi có một người chồng.
Hôn nhân là chuyện cô không bao giờ từ bỏ. Thậm chí, trước chiến tranh cô từng cầu nguyện xin Chúa cho một người chồng và cô mơ đến một ngày nào đó Hoàng tử Bạch Mã sẽ xuất hiện ở huyện Dương Thành. Nhưng Hoàng tử chẳng bao giờ xuất hiện, ít ra là theo trí tưởng tượng của cô. Dầu vậy, chiến tranh đưa một người khác đến với cô, tên là Linnen. Ông Linnen là một sĩ quan trong quân đội Trung Hoa. Ông là người thuyết phục cô làm gián điệp chống lại người Nhật. Thoạt đầu, lòng yêu nước khiến họ xích lại gần nhau qua hoạt động, nhưng mối tình bắt đầu nảy nở theo thời gian. Gian khổ và khó khăn trong chiến tranh càng tăng thì cô càng muốn được an toàn và càng mong mỏi lập gia đình. Cô viết thư về cho gia đình ở Anh báo tin rằng cô dự tính kết hôn với ông này. Nhưng hôn nhân chẳng bao giờ diễn ra. Ở một miền quê bị tàn phá tơi tả bởi chiến tranh, thì chẳng có gì là chắc chắn ngoại trừ cái chết, do đó mọi chương trình được lập ra đều bất thành.
Có nhiều người khác cần tình yêu thương và sự chăm sóc nhiều hơn là ông Linnen. Cô phải chăm sóc một số trẻ em. Bé Chín Xu (Ninepence) là con nuôi đầu tiên. Cô mua bé gái bị bỏ rơi này với giá chín xu. Theo thời gian, cô “nhận” thêm nhiều con nuôi nữa. Ngoài số con nuôi, có mấy chục trẻ mồ côi sống nhờ cô nuôi dưỡng. Trách nhiệm lớn lao này như một bóng đen tối tăm đe doạ mạng sống bọn nhỏ khiến cô phải rời khỏi tỉnh Sơn Tây. Cô đi cùng với đám con nít gần một tram bé vào mùa xuân năm 1940, vượt núi non, băng qua Hoàng Hà (Yellow River) đến vùng an toàn ở bên kia bên giới.
Cuộc hành trình hoá ra rất nguy hiểm và gian khổ. Lộ trình của cô không bao giờ quá xa chốt chiếm đóng của quân thù. Dẫn non một trăm trẻ em ồn ào vượt khỏi những chốt đó mà không bị phát hiện khiến thần kinh cô rất căng thẳng. Rốt cuộc, khi họ đến nơi an toàn, cô suy sụp hoàn toàn vì kiệt quệ thần kinh lẫn sức lực. Còn trẻ em bị phân tán mỏng đến những nhà nuôi người tị nạn. Nhờ được hai
ông bà giáo sĩ chăm sóc, sau nhiều tháng cô Aylward dần dần khoẻ mạnh, nhưng thần kinh cô vẫn suy nhược nên bị nhiều ảo giác. Cô hay đi lang thang quanh làng mà không tìm ra đường về nhà. Nhưng sau nhiều tháng, mức độ rối loạn thần kinh giảm dần, cô lại có thể liên lạc với lũ trẻ tản lạc và chăm sóc nhiều người khác.
Đến năm 1943, sau khi quân Nhật rút đi, cô trở về Trung Hoa để sống với các giáo sĩ thuộc hội CIM. Nhưng cô cảm thấy bồn chồn nên cô tiếp tục ra đi. Cuối cùng, cô dừng chân sống tại thành phố Thành Đô (Trung Hoa). Tại đó, ít lâu sau, một hội thánh địa phương mời cô làm Nữ Nhân Sự Gieo Giống Tin Lành, một vị trí từ trước đến nay chỉ dành riêng cho nữ Cơ Đốc bản xứ. Dầu vậy, cô nhận công tác ở vị trí thấp thỏi đó với lòng quý trọng, phục vụ Hội Thánh trong lãnh vực truyền giáo và công tác từ thiện.
Năm 1949, sau gần hai mươi năm phục vụ ở Trung Hoa, người ta thuyết phục cô về thăm quê hương. Trong chuyến nghỉ hạn đó, “người nữ nhỏ nhắn” trở về từ Trung Hoa chiếm được cảm tình của người Anh. Vì chưa hoà nhập được với văn hoá phương Tây nên cô muốn tiếp tục giữ một vai trò ở hậu trường. Nhưng mẹ cô, người đại diện cho cô, nghĩ về cô theo hướng khác. Nhiều năm qua, bà từng nhận lời mời đi thuyết trình một bài duy nhất của mình với tựa đề: “Gladys của chúng tôi hoạt động ở Trung Hoa”. Vì vậy, nay con gái của bà trở về quê hương, bà rất hãnh diện giới thiệu cô với những khán thính giả của bà.
Trong những năm kế tiếp, qua quyển tiểu sử nổi tiếng tựa đề “Người Nữ Nhỏ Nhắn” (The Small Woman) của tác giả Alan Burgess, qua phim tựa đề “Quán Trọ Lục Phúc” (The Inn of the Sixth Happiness) do cô Ingrid Bergman thủ vai và phim truyện “Đây là Cuộc đời của Bạn” (This is Your Life) được chiếu trên đài truyền hình BBC, cô Aylward trở thành nhân vật nổi tiếng khắp thế giới. Cô trở lại Trung Hoa để phục vụ và cư trú tại Đài Loan năm 1957. Cô tiếp tục hành trình nhiều nơi trên thế giới. Cô luôn luôn là trung tâm chú ý của mọi
người. Cô thuyết trình tại nhiều nơi, thí dụ: ở Hollywood First Presbyterian Church và dùng bữa tối với nhiều nhân vật quan trọng thí dụ: Nữ hoàng Elizabeth. Dầu vậy, bất chấp mọi công tác cô đã thực hiện lẫn danh tiếng mà cô nhận được, cô chẳng bao giờ hoàn toàn tin chắc về sự kêu gọi của Chúa. Đặc biệt là cô không tin chắc Đức Chúa Trời tin cậy một người nữ đến nỗi giao phó trách nhiệm cho cô. Về cuối đời, trong một lần được phỏng vấn, cô tâm sự về mối nghi ngại với một người bạn:[1]
[1] “TỪ GIÊ-RU-SA-LEM ĐẾN IRIAN JAYA” của Ruth A. Tucker. Bản dịch Việt ngữ do VEMF ấn hành, 2020. Trang 374-381.
