Câu chuyện truyền giáo

ĐƯỢC CỨU TRONG ĐÊM 

“Em sẽ đua với anh chạy tới cái cây kia!” Mark Kniss tám tuổi nói anh trai Paul. Đứng tcong  người trên bàn đạp, hai cậu con trai của giáo sĩ đạp xe nhanh hết sức trên con đường mòn  đầy bụi do xe bò kéo đi. 

Phía sau các cậu là cả đoàn truyền giáo. Ông Lloy Kniss, giáo sĩ tại Ấn Độ, lái chiếc  Chevrolet kiểu cũ thật chậm trên con đường gập ghềnh. Bên cạnh ông là vợ, bà Elizabeth,  và cô con gái nhỏ Esther; còn ở băng ghế sau có hai phụ nữ da nâu người Ấn chuyên phát  Kinh Thánh và truyền đạo đơn, cùng với vợ của một ông truyền đạo người Ấn. 

Ba ông truyền đạo và một người đầu bếp người Ấn đạp xe đạp phía sau chiếc xe hơi. Tiếp  theo là vài xe bò chở đầy mọi thứ đoàn truyền giáo cần cho chuyến đi kéo dài hai tháng! Lều  bạt, giường xếp, xô chậu, sách vở, thuốc men và thực phẩm, đèn lồng và dụng cụ—tất cả  được xếp gọn gàng trong mấy cái xe gỗ. 

 

“Em ước gì mình ở lại làng Bhotiyadihi thêm ít  lâu nữa,” Mark nói với anh khi cả hai ngồi nghỉ  dưới bóng cây, chờ những người khác bắt kịp.  

“Đó là một trong những nơi cắm trại dễ chịu nhất  mà mình từng có. Anh nhớ cây xoài lớn mình ngủ  dưới gốc không? Em muốn treo một cái xích đu  lên cái cành thẳng to ngay phía trên lều của  mình.” 

“Ừ, nhưng Ba đã cầu nguyện về chuyện đó,”  Paul mười tuổi đáp. “Ba và mấy người truyền đạo đã quyết định sẽ đi hôm nay nếu hết mưa, và ngay sau đó họ thấy trời thoáng mây. Vậy nên tối nay, mình sẽ ở Panduka. Không biết  trại đó sẽ ra sao nhỉ?” 

Buổi chiều trời sáng và nắng đẹp khi đoàn truyền giáo đến làng Panduka. Cha của Mark  nhanh chóng xin phép các bô lão trong làng để cắm trại dưới một cụm cây xoài lớn. Rồi ông  và những người trong đoàn dựng lều và đào một hố nông trên đất để nhóm lửa. 

Từ một chiếc xe bò, một bó củi được mang đến hố lửa thô sơ. Buổi tối khi trời trở lạnh, hơi  ấm và ánh sáng của ngọn lửa sẽ thu hút nhiều người trong làng đến đây. Đó là dịp để đoàn  truyền gíao chia xẻ Phúc Âm quý báu của Chúa Giê-xu với họ qua câu chuyện và bài hát. 

Khi mọi người đã ăn bữa tối xong bên bếp lửa thì trời đã nhá nhem. Mark cùng anh trai và  em gái đứng nhìn cha chúng thắp chiếc đèn măng-sông và treo lên một cây cột. Ánh sáng  trắng sạch, rực lên ấy đẩy lùi mọi bóng tối ra tận rìa trại, khiến bọn trẻ cảm thấy an toàn. 

“Đây là chỗ sáng nhất trong cả làng,” Paul nhận xét với mọi người. “Không ai trong làng có  đèn sáng như vầy. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ tới xem đèn của mình thôi!”

Paul nói đúng. Dọc theo những con hẻm nhỏ quanh co của làng, người ta đang đến. Từng  đôi, từng ba người, rồi từng nhóm nhỏ, dân làng lần theo ánh sáng và hơi ấm mà tìm đến  trại của đoàn truyền giáo. Các tín hữu tiếp đón họ lịch sự, rồi một nhà giảng đạo người Ấn  hướng dẫn mọi người học hát một bài thánh ca. 

Đến mười giờ tối, Mark mệt nhoài. Buổi nhóm đã kết thúc, nhưng vẫn còn vài người đàn ông  Ấn Độ nán lại quanh bếp lửa trò chuyện với mấy người truyền đạo, trong khi phụ nữ và trẻ  em chuẩn bị đi ngủ trong lều. Mark thật buồn ngủ, không còn mở mắt nổi khi cậu lăn mình  trên bao rơm lạo xạo dùng làm nệm cho chiếc giường xếp. Cậu nghe tiếng rì rầm của đàn  ông phía ngoài vách lều, và xa hơn nữa là một âm thanh khác—tiếng rên rỉ của cành lá khi  gió nổi lên trong đêm tối. Nghe như bão sắp đến, Mark nghĩ khi thiếp đi. 

Vài giờ sau, Mark bỗng giật mình tỉnh dậy. Tiếng gió rít gào đầy tai, và chiếc lều phía trên cậu  phập phồng dữ dội. Trong ánh sáng mờ của một chiếc đèn pin, cậu thấy Ba đang đứng ở  một cọc lều, dồn sức nặng tựa vào đó. “Có chuyện gì vậy?” cậu hoảng hốt kêu lên trong  cơn ngái ngủ. 

“Có bão lốc,” mẹ cậu đáp với giọng bình tĩnh. “Con đừng đánh thức em Esther. Chúa sẽ giữ  chúng ta bình an!” Chớp mắt, Mark nhìn quanh lều. Mẹ cậu đang quỳ, cầm đèn pin… chắc  bà cũng đang cầu nguyện nữa. Ba cậu cao lớn đứng giữ cọc lều, vững vàng như không gì có  thể lay chuyển. Ngoài kia bão gào thét, nhưng Mark có thể cảm nhận được đức tin của cha  mẹ về sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Rồi mí mắt cậu lại từ từ khép xuống. 

Sáng hôm sau, trời trong và xanh đến mức Mark tự hỏi không biết cơn bão trong đêm vừa  qua có phải chỉ là một giấc mơ không. Nhưng rồi cậu nghe những tiếng bàn tán sôi nổi  quanh bếp lửa bữa sáng: “Mưa đá à?” “Đúng, mưa đá to lắm! Nhưng không một viên nào  rơi trúng cái lều nào của đoàn truyền giáo chúng ta!” 

Mặc đồ thật nhanh xong, Mark chạy ra ngoài trong buổi sáng rực rỡ. Xung quanh cậu, người  lớn đang bàn luận về trận bão. “Chắc hẳn Đức Chúa Trời đã ở cùng chúng ta đêm qua,”  một ông truyền đạo Ấn Độ nói với lòng biết ơn. “Cơn bão lốc đi qua đây mà không một cái  lều nào của chúng ta bị hư hại cả!” 

Bỗng một đám phụ nữ chạy ùa vào khu đóng trại  của đoàn truyền giáo, ai nấy tíu tít tranh nhau  nói cùng một lúc. “Đức Chúa Trời của các ông  bà đã cứu các ông bà hôm qua!” một người thở  hổn hển kêu lên. “Chúng tôi mới đến từ làng  Bhotiyadihi,” người khác tiếp lời, “nơi hôm qua  các ông bà còn cắm trại. Và cái cây lớn đó—”  chị chưa kịp thở đã bị một người khác chen vào:  

“Cây xoài lớn mà các ông bà cắm trại dưới gốc  đó—nó đổ rồi! Cơn bão làm nó ngã đúng chỗ các ông bà đã cắm lều!” “Đúng ngay cái chỗ đó!” người thứ tư phụ họa. “Nếu hôm qua các ông bà không dời đi, chắc đã chết rồi! Đức  Chúa Trời của các ông bà đã cứu các ông bà. Chúng tôi đang đi chợ ở Panduka, nhưng  trước hết chúng tôi muốn kể cho các ông bà nghe về cái cây ấy!” 

Mark đứng sát bên cha cậu, lắng nghe. Cậu rùng mình nghĩ đến cái cây xoài lớn đẹp đó!  “Vậy mà mình đã muốn ở lại đó lâu hơn. Nhưng Ba đã cầu nguyện, và Đức Chúa Trời cho  thấy bầu trời xanh như một dấu hiệu rằng chúng ta phải rời đi. Thật tốt vì chúng ta đã vâng  lời Đức Chúa Trời! Ngài đã gìn giữ chúng ta được bình an.” 

Ghi chú lịch sử: 

Ông Bà Lloy và Elizabeth Kniss làm giáo sĩ tại miền Trung Ấn Độ trong mười sáu năm, từ 1926 đến  1942. Sự việc này xảy ra khoảng năm 1935. Cậu bé Mark không bao giờ quên đêm gia đình mình  được cứu khỏi cơn bão. Khi lớn lên, cậu trở thành bác sĩ và cùng vợ làm giáo sĩ tại Ấn Độ trong mười  ba năm. Mark Kniss là chú của tác giả theo diện thông gia. [1]

 

[1] Nguồn: Milred A. Martin, Mission Story with the Millers. Green Pasture Press, 2009. trang 100-104