NỖI NIỀM TÂM SỰ Ở ẤN ĐỘ
Ông John khao khát truyền bá Phúc Âm trên quy mô toàn cầu. Khi cánh cửa của nước Iran đóng lại, ông cầu xin Chúa mở một cánh cửa khác: “Lạy Chúa, xin mở đường cho con đi phục vụ nhiều dân tộc.”
Ít lâu sau, ông John nhận được điện thư của Ủy ban Olympic của nước Ấn Độ. Họ muốn ông đến đất nước của họ để huấn luyện các cầu thủ bóng chày giống như ông ấy đã thực hiện ở nước Iran. Ông John không quan tâm đến cơ hội này. Ấn Độ có rất nhiều Cơ Đốc nhân và giáo sĩ rồi. Ấn Độ không phải là một đất nước khép kín như Iran. Ông nghĩ rằng ở Ấn Độ không có những thách thức đáng để ông đối diện.
Ông ấy trả lời điện thư và từ chối lời mời của họ. Nhưng họ lại gửi một điện thư nữa, xin ông suy nghĩ lại. Sau một lần từ chối và một lời năn nỉ khác, ông John bắt đầu dao động. Có vẻ như Chúa muốn ông chú ý đến nước đó. Nhưng Ấn Độ? Ông John thở dài, gõ gõ bàn phím mà chưa biết phải trả lời như thế nào. Ông thầm nghĩ: “Mình phải trả lời như thế nào để không làm tổn thương họ? Nếu mình đi thì làm thế nào mình biết chắc là Chúa muốn mình đi đến đó?” Rốt cuộc, ông John trả lời cho Ủy ban Olympic là ông sẽ đến Ấn Độ trong chín ngày.
Không có gì trong cuộc hành trình làm ông ấy phấn khởi tinh thần. Ông ấy lo huấn luyện các cầu thủ bóng chày thế thôi. Ông ấy không có cơ hội dành thời gian trò chuyện với cầu thủ cũng không có thời gian chia sẻ niềm tin với họ. Vì các công ty truyền hình theo ông khắp nơi đến nỗi coi như không lúc nào ông cảm thấy thoải mái tự do. Ông thường nghĩ về nước Iran và về những trải nghiệm tuyệt vời mà ông đã trải qua ở đó. Có thể có cơ hội nào cho ông ở Ấn Độ này không? Ông chỉ muốn về nước.
Rốt cuộc trong đêm cuối ông còn ở Ấn Độ, buộc lòng ông John phải đến dự cuộc họp báo cuối cùng vào tối thứ bảy. Ông trả lời một cách qua loa tất cả các câu hỏi của phóng viên. Cuối cùng, nhóm phóng viên tản mác ra về nên ông John hy vọng rằng rốt cuộc, ông sẽ được nghỉ ngơi.
Bỗng nhiên có một giọng nói: “Tôi muốn hỏi điều này nữa, ông Huấn luyện viên Heerema à.”
Ông John nhìn phóng viên, nén tiếng thở dài: "Chuyện gì vậy?"
“Ông có phải là Cơ Đốc nhân không?”
Hơi ngạc nhiên, ông John trả lời: “Đúng vậy, tôi là Cơ Đốc nhân.”
Phóng viên phấn khởi nói: “Tôi cũng vậy. Ông có muốn đi nhóm tại nhà thờ với tôi không?”
Ông John mỉm cười và gật đầu: “Ồ tốt quá, tôi sẽ đi nhóm với ông.”
Sáng hôm sau người phóng viên đưa ông đến buổi nhóm. Nhà thờ này không phải là một toà kiến trúc đẹp đẽ, sạch sẽ, cao lớn như những nhà thờ khác mà ông thấy trong thành phố. Đây chỉ là một nhà gạch mốc meo, nền đất với ánh sáng mờ ảo. Ông John là người da trắng duy nhất ở đó, còn lại toàn là người nghèo ở Ấn Độ ngồi chật cứng trong nhà thờ. Trên người họ phủ đầy bụi bặm, quần áo rách rưới. Họ hào hứng nói chuyện với ông bằng một ngôn ngữ khác lạ, giơ bàn tay bẩn thỉu để bắt tay ông. Ông John cảm thấy ghê ghê và không thoải mái. Ông đến để làm gì đây? Ngay sau khi buổi thờ phượng kết thúc, ông sẽ rời khỏi chỗ tối tăm này.
Khi buổi thờ phượng bắt đầu, ông John đứng ngước mắt nhìn lên trần nhà để tránh những cảnh tượng tồi tàn xung quanh mình. Một bóng đen đang di động khiến ông chú ý. Một ông nọ đang tiến tới lối đi ở giữa phòng, mắt nhìn chăm chú cây thập tự giá bằng gỗ thô sơ dựng ở phía cuối phòng nhóm. Ông ta đang trườn trên nền đất. Hai bàn tay bấu vào nền đất để trườn mình tới từng chút một cách chậm chạp đáng thương. Ông John nhìn xuống và cảm thấy kinh hoàng. Ông ta không có chân nhưng ông ta không xin ai giúp đỡ cũng không rời mắt khỏi cây thập tự giá một giây phút nào. Ông John cảm thấy nghẹn ngào, lòng chợt nặng trĩu vì xấu hổ.
Thêm nhiều người bước vào lối đi đó - trẻ em mặc quần áo rách rưới, một phụ nữ đầy vết loét hở miệng rỉ nước. Hai ông đi khập khiễng với đôi chân què quặt, và một người khác do một đứa trẻ dẫn bước về phía trước với đôi mắt mù loà. Ông John cảm thấy muốn bệnh. Ông muốn nhìn sang chỗ khác nhưng không thể. Những người này thuộc tầng lớp thấp nhất trong xã hội, tầng lớp tiện dân. Hàng ngày họ sống trong cảnh nghèo đói khủng khiếp. Tuy nhiên, ông John quan sát thấy họ ca ngợi Chúa với nét mặt vui vẻ, đơn sơ. Già trẻ, nam nữ đều hát lớn tiếng thờ phượng Đấng Cứu Thế của họ. Họ không lộ vẻ vô vọng vì họ có Chúa Giê-xu rồi. Ngài là tất cả mọi điều họ cần.
Một bài hát bằng tiếng Bengali thu hút sự chú ý của ông John. Đó là "Vì Chúa Giê-xu sống! Con có thể đối diện với ngày mai." Ông John thầm nghĩ. Có phải Chúa đang phán với ông không?
Đôi mắt rưng rưng khiến ông John hầu như không nhìn thấy gì. Ông nắm chặt bàn tay, móng tay bấm sâu vào lòng bàn tay, khi ông cảm thấy Đức Thánh Linh đang phán trực tiếp với ông: “Những người này không cần thứ gì cả, John à. Họ chỉ cần có Ta.” Ông đưa tay che miệng khi bắt đầu khóc đến nỗi vai ông rung động. Ông cầu nguyện: “Xin Chúa tha thứ cho con vì con đã quá tập trung vào bản thân mình đến nỗi không nhìn thấy những điều Ngài muốn con thấy. Con đang tìm kiếm điều con muốn, chứ không phải ý muốn của Ngài. Ngài không muốn con ở Iran, Ngài muốn con ở đây. Những người ở Ấn Độ này cần Ngài. Xin Chúa cho con nhận biết/thấy những việc Ngài muốn con thực hiện.” Ông John nhắm nghiền mắt, nước mắt lăn dài trên má.
"Không sao đâu, thưa ông."
Ông John mở mắt nhìn.
Một cậu bé người Ấn Độ đang mỉm cười với ông, đôi mắt to tròn màu nâu nhìn thẳng vào mắt ông John. Manh áo rách rưới của đứa trẻ tuột xuống một bên vai, da dính đầy bụi bặm nhưng trông cậu có vẻ bình yên và mãn nguyện. Cậu bé đưa tay ra và chạm vào cánh
tay ông John. Cậu bé thì thầm: “Ngài vẫn sống.” Môi cậu nở nụ cười vui vẻ, khiến miệng ngày càng rộng hơn.
Ông John đem theo ký ức về những người đó khi về đến nhà. Họ có thể nghèo về thể xác/vật chất, nhưng họ sở hữu sự giàu có lớn nhất của Chúa Giê-xu.
Ông còn hành trình đến Ấn Độ ba lần nữa. Nhưng ông chẳng có thời gian tự do nào để chia sẻ niềm tin. Như vậy, Chúa muốn ông làm gì đây? Mãi đến lần hành trình thứ tư ông mới gặp một người tên là Benjamin. Ông này là một Cơ Đốc nhân rất mạnh mẽ và được chỉ định để liên hệ với ông. Ông Benjamin và ông John nhanh chóng trở thành bạn thân. Hai ông dành nhiều giờ đồng hồ nói chuyện với nhau về Cơ Đốc giáo ở Ấn Độ. Đa số các Hội Thánh ở đây đều là của người phương Tây. Có rất ít Hội Thánh dành riêng cho người Ấn Độ.
Ông John muốn thay đổi tình trạng này. Trong trí ông đã hình thành một kế hoạch. Giờ đây ông trình bày ý tưởng của mình với ông Benjamin: “Tôi muốn bắt đầu xây dựng nhiều nhà thờ ở Ấn Độ để người dân có thể đón nhận Cơ Đốc giáo như một phần văn hóa của họ”.
Đôi mắt của ông Benjamin ánh lên sự phấn khích. "Đúng, nhưng không chỉ các thành phố mới cần nhà thờ. Hầu hết dân chúng đều sống trong các làng mạc. Chúng ta cũng phải tiếp cận họ." Lần tiếp theo ông John trở lại Ấn Độ không phải với tư cách huấn luyện viên bóng chày. Ông đã hoàn thành công tác huấn luyện. Ông cùng ông Benjamin đến thăm một số ngôi làng ở Ấn Độ. Đi cùng hai ông có một thông dịch viên tên là Ani. Anh Ani đã lập một nhóm thông công ở một làng khác nên đã đưa hai ông đến xem. Ông Benjamin đặc biệt tuyển anh Ani để giúp ông John có tầm nhìn về các ngôi làng.
Ông John quan sát vị lãnh đạo ở làng này hướng dẫn buổi thờ phượng. Sau đó, ông John hỏi anh Ani: “Nếu anh đã lập nhóm thông công này, sao anh không làm mục sư ở đây?”
Anh Ani cười tươi trả lời: "Nếu làm mục sư, tôi phải ở lại đây với nhóm thông công. Trái lại, tôi dạy người lãnh đạo này hướng dẫn người dân ở đây. Mỗi tháng một lần tôi đến thăm để hỏi han xem mọi việc có ổn thoả không và khuyến khích/khích lệ họ. Sau đó tôi đi đến nơi khác và bắt đầu thành lập một mối thông công mới cho Chúa Giê-xu.”
Mục vụ của anh Ani truyền cảm hứng sâu sắc cho ông John. Anh Ani có thể chăm sóc các nhóm thông công đang phát triển trong khi tiếp tục gây dựng những nhóm thông công mới. Đó là chiến lược tuyệt vời tác động đến các ngôi làng.
Ông John thản nhiên hỏi: “Anh Ani à, có bao nhiêu ngôi làng trong khu vực này?” Anh Ani nhe răng cười: “Một ngàn sáu trăm (1.600) ngôi làng.” Ông Benjamin mỉm cười. Kế hoạch của ông ấy đã phát huy tác dụng.
Ông John mở to mắt và ngay lúc đó ông không thể nói thành lời. Khi Ani cười thích thú, ông John nhận ra là có biết bao nhiêu việc phải làm cho Chúa ở Ấn Độ này. Ông Benjamin nói đúng. Cần tiếp cận các ngôi làng vì dân chúng đây luôn luôn cởi mở và sẵn sàng tiếp nhận Tin Mừng. Nếu có một mục vụ trang bị/huấn luyện và trao sứ mạng cho Cơ Đốc nhân Ấn Độ để họ tiếp cận chính dân tộc mình/bản xứ thì {kết quả} sẽ ra sao?
Trước khi bay về Mỹ, ông John đã nói chuyện với ông Benjamin lần cuối. Ông John bắt đầu ngập ngừng: “Tôi có ý tưởng về một mục vụ mới. Chúng ta có thể đào tạo Cơ Đốc nhân Ấn Độ để họ thành lập hội thánh tại các làng của họ. Sau đó, họ có thể môn đệ hóa/giúp những người khác để tiếp cận nhiều làng hơn. Mục vụ này sẽ tiếp tục lan rộng tới các ngôi làng tại khắp Ấn Độ, thậm chí có thể là khắp châu Á.”
Ông Benjamin gật đầu: “Đó là một ý tưởng tuyệt vời. Nhưng sao ông có vẻ lo lắng thế?”
Ông John nuốt nước bọt: “Ồ, tôi biết điều này đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Ông có vui lòng hợp tác với tôi trong mục vụ này không?”
Ông Benjamin mỉm cười: “Ông John à, tất nhiên là tôi sẽ làm việc với ông. Theo ý muốn của Chúa, chúng ta sẽ xây dựng nhiều nhà thờ tại các làng.”
Khi về đến nhà, ông John chia sẻ sự phấn khích của mình với ông Jim Powers và bà Pat Stuart. Cả hai người đều đồng ý đặt tên cho mục vụ này là “Big Life”.
Trích từ quyển:
'I Heard Good News Today 2: Big Life' [HÔM NAY EM ĐƯỢC NGHE TIN MỪNG 2] của Charissa Robertson. Mission Minded Publishers.
