CÂU CHUYỆN VỀ CÁI NHÌN VĨNH CỬU
Câu chuyện truyền giáo thiếu nhi
Tác giả: Aggie Hurst
Tháng 8 năm 1986
Vào năm 1921, một cặp vợ chồng giáo sĩ tên là David và Svea Flood đã cùng với đứa
con trai hai tuổi từ Thụy Điển đi đến miền trung tâm của Phi Châu, nơi được gọi là
Congo thuộc Bỉ. Tại đó họ gặp một cặp vợ chồng giáo sĩ trẻ người Bắc Âu khác, tên là
Ericksons và rồi bốn người hiệp nhau tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa. Trong những
ngày sống trong sự săn sóc dịu dàng, với nóng cháy thờ phượng, và tinh thần hy sinh,
họ cảm thấy được Chúa hướng dẫn rời trung tâm truyền giáo để đem Tin lành đến một
vùng xa xôi.
Đây là một bước lớn bằng đức tin. Khi đến làng N’dolera, người tù trưởng đã từ chối,
không cho họ vào làng của mình vì sợ bị các vị thần địa phương nổi giận. Vì vậy hai cặp
vợ chồng đã chọn một nơi cách làng nửa dặm trên dốc rồi xây dựng những túp lều vách
đất để sống.
Họ cầu nguyện cho một sự đột phá thuộc linh, nhưng không có gì xảy ra hết. Mối liên lạc
duy nhất của họ với dân làng là qua một cậu bé, người được làng cho phép bán gà và
trứng cho họ hai lần một tuần. Cô Svea Flood, một người phụ nữ nhỏ bé chỉ cao 1,4 mét
đã quyết định rằng nếu đây là người Phi châu duy nhất cô có thể gặp để nói chuyện, cô
sẽ cố gắng hướng dẫn cậu bé này đến với Chúa Giê-xu. Và thật vậy, cô đã thành công.
Nhưng không có việc gì khác để khích lệ họ cả. Trong khi đó, bệnh sốt rét tiếp tục tấn
công hết thành viên này đến thành viên khác của đoàn truyền giáo nhỏ bé. Sau một thời
gian chịu đựng nhiều đau khổ vợ chồng thầy cô Ericksons đã quyết định trở về trung tâm
truyền giáo. Còn thầy cô David và Svea Flood vẫn ở lại gần làng N’dolera hoạt động một
mình.
Đã vậy sau đó cô Svea lại có thai giữa vùng hoang dã sơ khai. Đến khi cô sinh con,
người trưởng làng đã mềm lòng cho phép một nữ hộ sinh đến giúp đỡ cô. Cô sinh một
bé gái và họ đặt tên là Aina.
Tuy nhiên, việc sinh nở đã làm cô Svea Flood kiệt quệ vì cô đã yếu đi sau những cơn sốt
rét. Việc sinh nở là một cú đánh mạnh vào sức chịu đựng của cô. Cô chỉ sống thêm
được mười bảy ngày.
Đó là lúc có một cái gì đó bị gãy đổ bên trong thầy David Flood. Thầy đào một ngôi mộ
thô sơ, chôn cất người vợ hai mươi bảy tuổi của mình, rồi đưa hai con trở xuống núi đến
trạm truyền giáo. Thầy giao con gái mới sinh của mình cho thầy cô Ericksons. Thầy hậm
hực: “Tôi đi về Thụy Điển. Tôi đã mất vợ, và rõ ràng tôi không thể thể một mình chăm sóc
đứa bé này. Chúa đã hủy hoại cuộc đời tôi.” Sau đó, thầy đi ra hải cảng lên tàu, từ chối
không những tiếng gọi của Chúa, mà cả chính Chúa nữa.
Trong vòng tám tháng, cả hai thầy cô Ericksons bị mắc một bệnh bí ẩn và chết cách nhau
chỉ vài ngày. Đứa bé sau đó được chuyển giao cho một gia đình giáo sĩ người Mỹ nuôi
nấng, và họ đã điều chỉnh tên Aina tiếng Thụy Điển của đứa bé thành Aggie, và cuối
cùng đưa nó trở lại Hoa Kỳ lúc ba tuổi.
Gia đình này yêu cô gái nhỏ và sợ rằng nếu họ cố gắng trở về Phi Châu, một số trở ngại
pháp lý có thể tách cô bé ra khỏi họ. Vì vậy, họ quyết định ở lại quê nhà và chuyển từ
công việc truyền giáo sang mục vụ chăm sóc hội thánh. Và đó là vì sao cô bé Aggie lớn
lên ở miền Nam bang Dakota. Khi là một cô thiếu nữ, cô theo học Trường Kinh Thánh
Cao Đẳng Trung Bắc ở Minneapolis. Ở đó, cô gặp và kết hôn với một chàng trai trẻ tên
Dewey Hurst.
Nhiều năm trôi qua gia đình thầy cô Hurst đã thi hành chức vụ đầy kết quả. Aggie sinh
một cháu gái trước, kế là một cháu trai. Sau một thời gian, chồng cô trở thành viện
trưởng của một trường Cao đẳng Cơ-đốc giáo ở vùng Seattle, và Aggie đã ngạc nhiên
tìm thấy rất nhiều di sản của người Bắc Âu (Scandinavia) ở đó.
Một ngày nọ, cô nhận được một tạp chí tôn giáo Thụy Điển trong hộp thư của mình. Cô
không biết ai đã gửi nó, và dĩ nhiên cô cũng không thể đọc được những bài viết bằng
tiếng Thụy Điển trong đó. Nhưng khi cô lật qua tạp chí, đột nhiên một bức ảnh làm cô
khựng lại. Trong hình là một ngôi mộ ở giữa khung cảnh thô sơ, với một cây thập tự màu
trắng – và trên thập tự có ghi chữ ‘SVEA FLOOD.’
Cô Aggie vội nhảy lên xe và đi thẳng đến gặp một giảng viên đại học, người mà cô biết
có thể dịch bài báo này. Cô muốn biết: “Bài báo này nói gì?”
Người giảng viên đọc qua rồi tóm tắt nội dung như sau: “Có vài giáo sĩ đã đến N’dolera
nhiều năm trước ... Họ sinh một đứa bé gái da trắng ... rồi người mẹ trẻ bị chết ... một
cậu bé Phi châu đã tin Chúa qua bà mẹ trẻ đó... và làm thế nào, sau khi tất cả những
giáo sĩ da trắng dời đi khỏi đó, cậu bé đã lớn lên, trưởng thành, và cuối cùng đã thuyết
phục được người tù trưởng cho phép anh ta xây dựng một ngôi trường trong làng. Bài
báo nói rằng dần dần anh ta đã đem được tất cả các học sinh của mình đến với Chúa
Giê-xu Christ... rồi những đứa trẻ đó đã đưa dẫn cha mẹ của chúng đến với Chúa Giê-
xu ... ngay cả tù trưởng cũng đã trở thành một Cơ đốc nhân. Ngày nay có sáu trăm tín
đồ Cơ-đốc trong ngôi làng đó ...”
Tất cả chỉ vì sự hy sinh của ông bà David và Svea Flood.
Để kỷ niệm hai mươi lăm năm ngày cưới của ông bà Hurst, trường Cao đẳng tặng họ
món quà là trả chi phí cho họ đi nghỉ thăm Thụy Điển. Đến đó, bà Aggie đã tìm kiếm
người cha ruột của mình. Bây giờ, ông David Flood là một ông già. Ông đã đã tái hôn và
có thêm bốn đứa con, và nói chung thì cuộc sống ông đang tiêu tan trong men rượu.
Mới đây ông bị đột quỵ. Vẫn còn cay đắng, ông có một luật cho gia đình: “Không bao giờ
được nhắc đến tên của Chúa – bởi vì Chúa lấy đi hết mọi thứ của tôi.”
Sau cuộc hội ngộ đầy cảm xúc với các người em trai em gái cùng cha khác mẹ, bà
Aggie đã yêu cầu muốn gặp cha mình. Những người em ngập ngừng. Họ nói: “Chị có thể
nói chuyện với cha, mặc dù bây giờ cha đang bệnh. Nhưng chị phải biết rằng bất cứ khi
nào cha mà nghe nói về Chúa, cha lại nổi cơn thịnh nộ lên đó”.
Bà Aggie đã không chùn lòng. Bà bước vào căn hộ tồi tàn, chai rượu lăn lóc khắp nơi, và
đến gần người đàn ông bảy mươi ba tuổi đang nằm trên một chiếc giường mền chiếu rối
nhàu.
“Cha?” bà nói ngập ngừng.
Ông David quay người lại và bắt đầu khóc: “Aina, cha không bao giờ có ý định cho con,
bỏ con đi cả.”
Bà Aggie ôm ông nhẹ nhàng trả lời: “Không sao hết cha à, Chúa đã săn sóc con mà.”
Ông David lập tức cứng người lên. Nước mắt đã ráo.
“Đức Chúa Trời đã quên tất cả chúng ta. Cuộc sống của chúng ta đã như thế này vì Ngài
đó!” Ông lại quay mặt vào tường.
Aggie vuốt mặt ông rồi nói tiếp, không nản lòng.
“Cha ơi, con có một câu chuyện nhỏ để kể cho cha nghe nè, mà đây là một câu chuyện
thật. Cha đi đến Phi Châu không phải là vô ích. Mẹ cũng đã không chết một cách vô ích
đâu. Cậu bé mà mẹ dẫn đến Chúa đã lớn lên rồi đem cả làng đó tin Chúa Giê-xu Christ.
Một hạt giống cha mẹ trồng đã tiếp tục phát triển. Ngày nay có sáu trăm người Phi châu
đang phục vụ Chúa vì cha mẹ đã trung tín với tiếng gọi của Chúa trong cuộc sống của
cha mẹ đó...
“Cha ơi, Chúa Giê-xu yêu cha mà. Chúa chẳng bao ghét cha đâu!”
Ông lão quay lại nhìn thẳng vào mắt con gái của mình. Cơ thể ông thư giãn ra. Ông bắt
đầu nói chuyện với con gái. Và đến cuối buổi chiều, ông đã trở lại làm hòa với Chúa mà
ông đã oán giận trong nhiều thập kỷ.
Suốt vài ngày sau, cha và con gái tận hưởng những giây phút đầm ấm bên nhau. Rồi cô
Aggie và chồng phải quay trở lại Mỹ, và vài tuần sau, ông David Flood đã về với Chúa
trong cõi vĩnh hằng.
Một vài năm sau, ông bà Hurst có dịp tham dự một hội nghị truyền giáo cao cấp ở Luân
Đôn, Anh Quốc. Tại đây ông bà nghe một bài tường trình về công việc Chúa tại quốc gia
Zaire (là Congo thuộc Bỉ cũ). Giáo hạt trưởng của hội thánh quốc gia, đại diện cho
khoảng 110.000 tín đồ được làm phép báp-tem, đã thuật lại một cách hùng hồn về Tin
Lành truyền bá trong quốc gia của mình. Aggie không thể không hỏi ông ta sau đó là:
“Ông đã nghe nói về ông bà giáo sĩ David và Svea Flood bao giờ chưa?”
“Có chứ, thưa bà.” Người đàn ông trả lời bằng tiếng Pháp, từ đó được dịch sang tiếng
Anh. “Chính là bà Svea Flood đã đưa dẫn tôi đến với Chúa Giê-xu Christ. Tôi là cậu bé
đã mang thức ăn cho cha mẹ bà trước khi bà được sinh ra đó. Thật sự là cho đến ngày
nay, mộ của mẹ bà và những kỷ niệm về bà của bà được tất cả chúng tôi ghi nhớ.”
Ông ôm bà Agie vào lòng cảm động khóc nức nở. Rồi ông nói tiếp, “Bà phải đến thăm
chúng tôi ở Phi Châu vì mẹ bà là người nổi tiếng nhất trong lịch sử của chúng tôi.”
Một thời gian sau, đó chính là việc bà Aggie Hurst và chồng đã làm. Họ được dân làng
chào đón chào đón nồng nhiệt. Bà thậm chí còn gặp được người đàn ông đã được cha
bà thuê để mang bà xuống núi trong một cái nôi nhiều năm trước đó.
Dĩ nhiên giây phút ấn tượng nhất là khi ông mục sư đưa bà Aggie đến thăm mộ có cây
thập tự trắng của mẹ bà. Bà đã quỳ xuống đất cầu nguyện và tạ ơn Chúa. Trong buổi
nhóm tại nhà thờ ngày hôm đó, ông mục sư đọc từ Giăng 12:24: “Quả thật, quả thật, Ta
nói với các ngươi, nếu hạt lúa mì kia không gieo xuống đất và chết đi thì nó chỉ là một
hạt; nhưng nếu chết đi, nó sẽ kết quả nhiều...” Sau đó, ông đọc tiếp Thi thiên 126: 5-6:
“Những người gieo giống trong nước mắt, Ắt sẽ gặt hái trong tiếng reo mừng. Người nào
vừa đi vừa khóc đem giống ra rải, Chắc chắn sẽ trở về với tiếng reo mừng, Mang đầy
những bó lúa chín vàng.”
______
Trích từ quyển sách: Aggie: Câu chuyện đầy cảm hứng về một cô gái không có tổ quốc. Tác
giả: Aggie Hurst, (Springfield, MO: Gospel Publishing House,1986)
